ĐAU NGỰC

Đau ngực là một trong những triệu chứng khá thường gặp tại phòng cấp cứu, do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, trong đó có những nguyên nhân nguy hiểm, trực tiếp đe doạ tính mạng người bệnh nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Tổng quan về triệu chứng đau ngực

Đau ngực thường làm mọi người lo sợ và nghĩ ngay đến nhồi máu cơ tim. Thật ra, bất cứ cơ quan nào trong lồng ngực như tim, phổi, động mạch, thành ngực hay mô mềm,… khi bị tổn thương thì đều dẫn đến đau ngực. Tùy theo bệnh lý mà đặc điểm cơn đau ngực sẽ khác nhau.

Thực tế, có tới 30% các cơn đau ngực đi kèm với các triệu chứng nhẹ mà người bệnh không nhận ra hoặc có thể chịu đựng trong một khoảng thời gian ngắn và cố gắng vượt qua chúng.

Dựa trên nghiên cứu của Fruerfaard và cộng sự về các chẩn đoán bệnh nhân nhập viện bị đau ngực cấp tính nhưng không có nhồi máu cơ tim tại các khoa cấp cứu, đau ngực là nguyên nhân nguy hiểm thứ 2 chiếm khoảng 5% trong tổng số ca nhập viện cấp cứu. Trên toàn thế giới, đau ngực ảnh hưởng từ 20% đến 40% dân số nói chung.

Trong đó, Hội chứng mạch vành cấp (ACS) chiếm khoảng 31% các trường hợp nhập viện cấp cứu, bệnh trào ngược đường tiêu hóa chiếm 30%, đau lồng ngực đến từ cơ xương khớp lên đến 28% và một số bệnh lý về hệ hô hấp và tiêu hóa khác.

Bệnh nhân bị đau ngực thường được chẩn đoán dựa vào vị trí xuất hiện như đau ngực bên trái, đau ngực phải hoặc đau ngực diện rộng

Đau ngực là gì?

Đau ngực là cảm giác đau ở vùng ngực từ mức ngang vai đến mức dưới cùng của xương sườn. Cơn đau xuất hiện dưới nhiều hình thức từ đau nhói đến đau âm ỉ, đau kéo dài hoặc thoáng qua, cơn đau xuất hiện tại ngực bên trái hoặc phải, đôi khi lan rộng ta toàn bộ vùng ngực. Đau ngực có thể kèm theo triệu chứng khó thở, đau đầu, chóng mặt,…

Triệu chứng đau ngực phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe và cơ địa của mỗi người mà cơn đau cũng khác nhau về tần suất, cường độ, khoảng thời gian và vị trí đau. Vì vậy, chẩn đoán nguyên nhân gây đau ngực đôi khi rất khó khăn và đòi hỏi cần thời gian. Nhưng điểm quan trọng nhất đối với các bác sĩ là cần phải chẩn đoán xác định hoặc loại trừ được các nguyên nhân gây đau ngực nguy hiểm, đe dọa tính mạng bệnh nhân như: cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim, bóc tách động mạch chủ ngực, thuyên tắc phổi, tràn khí màng phổi áp lực,…

Sinh lý bệnh và phân loại triệu chứng đau ngực

Hạch giao cảm tại ngực được phân nhánh đến tim, phổi, thực quản và các mạch máu lớn trong lồng ngực. Các nguyên nhân bất thường gây kích thích đau tại các cơ quan này, nhưng do có sự chồng chéo giữa các sợi hướng tâm trong hạch giao cảm lưng vì vậy các cơn đau có thể truyền dẫn đến các vị trí xung quanh khiến người bị đau ngực có cảm giác cơn đau thường lan ra diện rộng, xuất hiện tại nhiều cơ quan, khó xác định chính xác vị trí đau.

Hiện tượng đau ngực có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, các bộ phận bị tổn thương có thể gây ra cơn đau như tim, phổi, thực quản, dạ dày, cơ, xương sườn hoặc dây thần kinh xung quanh lồng ngực. Đau ngực có thể xuất phát từ nhiều vị trí như đau ngực bên trái, đau ngực bên phải, cổ, vai, lưng đến phần bụng trên. Vì vậy, để quá trình chẩn đoán và điều trị được thuận tiện, đau ngực được chia theo vị trí cơn đau xuất hiện, bao gồm:

  • Đau ngực do tim.
  • Đau ngực do phổi.
  • Đau ngực do hệ tiêu hóa.
  • Đau ngực do cơ xương khớp.
  • Đau ngực do các nguyên nhân khác.

Đau ngực là dấu hiệu bệnh gì?

Nguyên nhân gây triệu chứng đau ngực đến từ nhiều nguyên nhân do tim hoặc không do tim. Các nguyên nhân có thể gây ra triệu chứng đau ngực như:

Nguyên nhân đau ngực do tim

Do mạch vành Cơn đau thắt ngực
Nhồi máu cơ tim
Không do mạch vành Viêm màng ngoài tim
Viêm cơ tim
Bệnh cơ tim phì đại
Sa van hai lá
Bóc tách động mạch chủ
Tăng áp động mạch phổi
Thuyên tắc phổi

Nguyên nhân đau ngực không do tim

Liên quan hệ hô hấp Bệnh lý liên quan màng phổi: viêm màng phổi, tràn khí/ dịch/ mủ màng phổi
Bệnh lý liên quan nhu mô phổi: viêm phổi/ áp xe phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen phế quản, ung thư phổi
Bệnh lý liên quan trung thất: u, tràn dịch, tràn khí,…
Liên quan hệ tiêu hoá Trào ngược dạ dày – thực quản
Viêm dạ dày – tá tràng
Loét dạ dày – tá tràng
Thủng thực quản
Rối loạn chức năng nuốt
Sỏi mật
Viêm túi mật
Viêm tuỵ
Liên quan cơ xương khớp Viêm khớp sụn sườn
Đau/ căng cơ
Chấn thương thành ngực (gãy xương sườn, dập cơ)
Các nguyên nhân khác Liên quan tâm lý: rối loạn lo âu, trầm cảm,…
Bệnh Zona thần kinh, viêm dây thần kinh liên sườn

Nguyên nhân gây đau ngực có thể dựa theo vị trí các cơ quan bao gồm:

  • Nguyên nhân liên quan đến tim.
  • Nguyên nhân liên quan đến phổi.
  • Nguyên nhân liên quan đến từ hệ tiêu hóa.
  • Nguyên nhân do cơ xương khớp.
  • Đau ngực do các nguyên nhân khác.

Nguyên nhân đau ngực liên quan đến tim

Trái tim cần một nguồn cung cấp máu tốt giống như bất kỳ cơ bắp nào khác trong cơ thể. Các động mạch vành chịu trách nhiệm cung cấp máu cho cơ tim. Đau ngực do tim thường do động mạch vành bị hẹp lại làm giảm nguồn cung cấp máu cho tim, nếu giảm một phần gây ra cơn đau thắt ngực, nếu tắt hoàn toàn sẽ gây nhồi máu cơ tim.

Cơn đau thắt ngực

Thành mạch cứng, dày, mảng cholesterol (mảng mỡ hay mảng xơ vữa) dần dần có thể tích tụ lên thành trong của các động mạch vành. Mảng xơ vữa có thể hình thành dần dần qua nhiều năm, tại một hoặc nhiều nơi trong động mạch vành.

Khi người bệnh nghỉ ngơi, việc giảm nguồn cung cấp máu cho cơ tim do mảng xơ vữa có thể vẫn đủ. Tuy nhiên, khi tim làm việc nhiều hơn (ví dụ, khi đi bộ nhanh hoặc leo cầu thang), cơ tim cần nhiều máu và oxy hơn. Nếu lượng máu tăng thêm không thể chảy qua các động mạch vành bị hẹp, tim sẽ thiếu máu và người bệnh sẽ thấy đau thắt ngực.

Có hai dạng đau thắt ngực là: đau thắt ngực ổn định và đau thắt ngực không ổn định. Cơn đau thắt ngực ổn định có các đặc điểm của cơn đau không thay đổi trong ít nhất 2 tháng, thường có 7 đặc điểm sau:

  • Vị trí: thường đau ở vùng sau xương ức hoặc đau ngực trái, đau có thể lan lên cổ, hàm dưới, vai trái và lan đến mặt trong cánh tay, cẳng tay trái, các ngón tay 4, 5.
  • Tính chất: đau ngực có cảm giác như bóp chặt, thắt nghẹt, đè nặng trước ngực.
  • Cường độ: vừa phải, bệnh nhân chịu đựng được nhưng buộc phải nhân gắng sức.
  • Hướng lan: ra hai cánh tay, thường là bên trái nhiều hơn, có khi lan lên cổ tới hàm dưới.
  • Thời gian cơn đau: thường kéo dài khoảng vài phút (5 – 10 phút), nếu đau ngực kéo dài > 20 phút phải nghĩ đến cơn đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim.
  • Hoàn cảnh khởi phát cơn đau: thường xuất hiện khi gắng sức, xúc cảm mạnh, gặp lạnh, sau bữa ăn nhiều.
  • Hoàn cảnh làm giảm đau: cơn đau thắt ngực giảm khi bệnh nhân ngưng gắng sức hoặc sau khi ngậm nitroglycerin dưới lưỡi.

Một số bệnh nhân có thể có triệu chứng đi kèm như buồn nôn, khó thở, hồi hộp.

Cơn đau thắt ngực không ổn định là tình trạng nghiêm trọng hơn và nếu không được xử trí kịp thời có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim. Để phân biệt đau thắt ngực ổn định và không ổn định sẽ dựa vào hoàn cảnh xảy ra cơn đau thắt ngực: khi nghỉ ngơi hay khi gắng sức. Trong đau thắt ngực không ổn định, các cơn đau ở ngực xảy ra kể cả khi người bệnh đang nghỉ ngơi không có hoạt động thể lực, có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào, không liên quan đến gắng sức, kéo dài hơn thường 10 – 15 phút, tạo cảm giác như lồng ngực bị thắt lại và tần suất nhiều lần,…
Đau thắt ngực là biểu hiện quan trọng nhất giúp nhận biết bệnh mạch vành tim. Một cơn đau thắt ngực do bệnh mạch vành thường bao gồm 3 đặc điểm sau:

  • Đau thắt ngực ở vùng sau xương ức với tính chất và thời gian điển hình như trên.
  • Xuất hiện khi gắng sức hoặc cảm xúc nhiều.
  • Giảm đau khi nghỉ hoặc dùng nitrates.

Nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim (đau tim) là tình trạng động mạch vành chính hoặc một trong các nhánh nhỏ hơn bị tắc nghẽn đột ngột dẫn đến lưu lượng máu vận chuyển đến tim không đủ. Nếu không được nhanh chóng loại bỏ tắc nghẽn, phần cơ tim này có nguy cơ chết đi, lúc đó chức năng bơm máu của tim không còn toàn vẹn như trước và có thể gây suy tim, sốc tim hay đột tử do tim. Xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính gây nhồi máu cơ tim.

Các triệu chứng phổ biến nhất của một cơn đau tim là đau ngực dữ dội khi nghỉ ngơi. Bệnh nhân thường cảm thấy nặng ngực. Cơn đau tức ngực có thể lan lên xương hàm hoặc xuống cánh tay trái hoặc cả hai cánh tay. Người bệnh cũng có thể vã mồ hôi, cảm thấy mệt, chóng mặt và khó thở. Cơn đau giống với đau thắt ngực nhưng nặng hơn và kéo dài hơn.

Viêm cơ tim

Viêm cơ tim là tình trạng viêm lớp cơ dày của thành tim khiến cơ tim bị tổn thương viêm và hoại tử, ảnh hưởng tới chức năng co bóp của cơ tim. Viêm cơ tim thường có các triệu chứng giống như những cơn đau tim như đau ngực bên trái, mệt mỏi, tim đập nhanh, khó thở và sốt cao.

Viêm màng ngoài tim

Viêm màng ngoài tim là tình trạng viêm hoặc nhiễm trùng màng xung quanh tim, thường gây ra các cơn đau nhói ngực và trở nên nặng hơn khi người bệnh cố gắng hít thở, nuốt thức ăn hoặc khi nằm xuống. Cơn đau thường xuất hiện sau xương ức, đau nhói ngực bên trái và lan rộng sang vai trái.

Bệnh cơ tim phì đại

Bệnh cơ tim phì đại là căn bệnh di truyền khiến cơ tim dày lên bất thường, đôi khi gây ảnh hưởng đến lưu lượng lưu thông máu ra khỏi tim. Theo thời gian, suy tim có thể xảy ra khi cơ tim trở nên rất dày, khiến tim làm việc nhiều hơn để bơm máu. Ngoài bị đau ngực, bệnh cơ tim phì đại cũng khiến người bệnh cảm thấy khó thở, chóng mặt, choáng váng dẫn đến ngất xỉu.

Sa van hai lá

Sa van hai lá là tình trạng tim không thể đóng lại đúng cách, một loạt các triệu chứng thường xuất hiện như đau lồng ngực, tim đập nhanh, khó thở và chóng mặt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp sa van hai lá nhẹ người bệnh cũng không có triệu chứng nào.

Bóc tách vành động mạch chủ

Bóc tách vành động mạch chủ là tình trạng các lớp bên trong động mạch chủ bị tách rời nhau, máu sẽ bị chèn ép giữa các lớp và có thể gây vỡ động mạch chủ. Đây là một bệnh lý nguy hiểm, có thể gây tử vong nhanh chóng.

Bóc tách đoạn lên của động mạch chủ gây đau vùng trước ngực trong khi bóc tách đoạn xuống gây đau giữa hai xương bả vai. Đau như xé, như dao đâm, lan sau lưng.

Tiền căn tăng huyết áp hoặc bệnh lý mô liên kết như hội chứng Marfan làm tăng nguy cơ bóc tách động mạch chủ.

Tăng áp động mạch phổi

Tăng áp động mạch phổi là sự tăng bất thường áp lực động mạch phổi có thể là hậu quả của suy tim trái, tổn thương nhu mô phổi hoặc bệnh lý mạch máu, huyết khối tắc mạch hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên. Do máu bơm lên phổi để trao đổi oxy bị cản trở nên người bệnh sẽ có triệu chứng nặng ngực, khó thở khi làm việc nhiều, thiếu oxy có thể làm ngất khi gắng sức. Lâu dần có thể có dấu hiệu của suy tim phải (gan to, phù chân,…).

Thuyên tắc mạch phổi

Thuyên tắc mạch phổi (pulmonary embolism – PE) là tình trạng mạch máu trong phổi xuất hiện một khối máu đông và chặn dòng lưu thông của máu. Khối máu đông gây cản trở quá trình trao đổi khí, có thể đe dọa đến tính mạng. Đau ngực kiểu màng phổi khởi phát đột ngột, có thể đau kiểu đè ép trong thuyên tắc phổi lớn, thường gây đau một bên ngực trái hoặc phải, đau sau xương ức kèm khó thở, có thể kèm ho ra máu hoặc vã mồ hôi.

Nguyên nhân đau ngực liên quan đến phổi

Phổi là bộ phận quan trọng và có kích thước chiếm phần lớn khoang ngực, vì vậy các tổn thương hoặc rối loạn tại phổi sẽ gây đau ngực diện rộng, lan sang cả bên trái và phải. Một số bệnh lý tại phổi có thể khiến bệnh nhân bị đau ngực như viêm màng phổi, tràn khí màng phổi, viêm phổi, bệnh hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,…

Viêm màng phổi

Viêm màng phổi là tình trạng lớp màng bao xung quang phổi bị viêm hoặc kích ứng. Nguyên nhân viêm màng phổi có thể do nhiễm virus hoặc vi khuẩn; các rối loạn tự miễn như lupus, viêm khớp dạng thấp; do dùng thuốc bao gồm procainamide, hydrazine và isoniazid; phẫu thuật ngực và ung thư. Đau ngực kiểu viêm màng phổi thường khá đặc trưng được gây ra bởi hít thở, ho hoặc di chuyển ngực.

Tràn khí màng phổi

Tràn khí màng phổi là tình trạng khoang màng phổi bị tích tụ khí làm cho phổi bị xẹp thụ động, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của cơ thể. Bệnh thường xảy ra đột ngột, kéo dài hàng giờ và khiến người bệnh ngày càng khó thở, đây là tình trạng cấp cứu.

Viêm phổi

Viêm phổi hoặc áp xe phổi là tình trạng các túi phế nang trong phổi bị viêm do tổn thương (thường do nhiễm trùng phổi) và ảnh hưởng tới hoạt động chức năng của phổi. Viêm phổi thường gây đau ngực, sốt cao, ớn lạnh, ho và khạc ra đờm.

Bệnh hen phế quản

Bệnh hen phế quản là một tình trạng viêm và co thắt đường hô hấp. Khi lên cơn hen, đường thở co lại và việc thở ra sẽ trở nên khó khăn hơn. Ngoài khó thở nghiêm trọng, thở khò khè và ho, người bị hen có thể bị thắt nghẹt ngực hoặc thậm chí đau ngực.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh viêm phổi mạn tính được gây ra bởi luồng khí bị tắc nghẽn từ phổi. Các triệu chứng bao gồm khó thở, ho, tiết chất nhầy và thở khò khè, có thể gặp cảm giác nặng hay đau ngực. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bao gồm hai dạng:

  • Khí phế thũng: tổn thương túi khí trong phổi.
  • Viêm phế quản mãn tính: đặc trưng bởi sự tăng tiết nhiều đờm nhầy trong phế quản và có biểu hiện ho khạc đờm tối thiểu 3 tháng liên tục trong năm, kéo dài 2 năm liên tiếp.

Hút thuốc lá là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Nguyên nhân đau ngực đến từ hệ tiêu hóa

Một số bệnh lý tiêu hóa cũng có thể dẫn đến triệu chứng đau ngực bao gồm:

Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản

Trào ngược dạ dày – thực quản là tình trạng dịch vị axit trong dạ dày bị trào ngược vào thực quản, khiến lớp niêm mạc bị tổn thương, người bệnh sẽ có cảm giác đau vùng xương ức hay thượng vị kiểu nóng rát (nóng rát thượng vị), xảy ra sau khi ăn và khi nằm ngửa, giảm đau khi sử dụng antacid. Trong một số trường hợp nặng, bệnh nhân sẽ đi kèm với triệu chứng ợ chua, ợ nóng, nôn ói, ói ra máukhó nuốt.

Rối loạn chức năng nuốt

Rối loạn chức năng nuốt là tình trạng các nhóm cơ tại vùng hầu họng và thực quản bị rối loạn, mất khả năng phối hợp, co bóp giúp di chuyển thức ăn từ vùng hầu họng xuống dạ dày, khiến người bệnh khó nuốt, đau đớn.

Thủng thực quản

Vỡ hoặc thủng thực quản là tình trạng tổn thương tất cả các lớp của thành thực quản làm thông lòng thực quản với bên ngoài. Bệnh khiến các cơn đau ngực xuất hiện đột ngột và dữ dội sau khi nôn ói hoặc một thủ thuật liên quan đến thực quản.

Loét dạ dày – tá tràng

Loét dạ dày tá tràng là các vết loét phát triển trong dạ dày và đoạn đầu của tá tràng. Các tổn thương này do axit ăn mòn hoặc do nhiễm khuẩn Hp (Helicobacter pylori) phát triển ở lớp niêm mạc (lớp trong cùng của dạ dày – tá tràng). Các tổn thương này ăn sâu qua niêm mạc từ đó để lộ lớp cơ niêm mạc và hình thành vết loét.

Thuốc lá, rượu bia, thuốc giảm đau như NSAIDs hoặc aspirin có thể khiến lớp niêm mạc dạ dày, tá tràng bị loét. Vị trí đau thường xuất hiện tại vùng thượng vị (đau thượng vị) hoặc sau xương ức kiểu nóng rát, cơn đau có thể lan sang ngực bên trái hoặc phải.

Bệnh lý về túi mật và tuyến tụy

Bệnh lý về túi mật và tuyến tụy như sỏi mật, viêm túi mật hoặc tuyến tụy có thể gây ra các cơn đau bụng và lan rộng sang ngực.

Nguyên nhân đau ngực do cơ xương khớp

Triệu chứng đau ngực cũng có thể đến từ các chấn thương hoặc các vấn đề sức khỏe ảnh hưởng đến cấu trúc lồng ngực như:

Viêm khớp sụn sườn

Viêm khớp sụn sườn (costochondritis) là tình trạng viêm các khớp nối giữa sụn xương sườn với xương ức, mặc dù gây viêm và đau nhưng đây không phải là tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và có thể điều trị.

Đau cơ, căng cơ

Đau cơ, căng cơ: các hội chứng đau nhức cơ bắp mạn tính như đau cơ xơ hóa có thể gây ra các cơn đau cơ ngực kéo dài.

Chấn thương xương sườn

Chấn thương xương sườn: các tổn thương hoặc chấn thương nặng ở xương sườn hoặc các nhóm cơ liên sườn cũng gây đau lồng ngực như xương sườn bị bầm hay gãy.

Đau ngực do các nguyên nhân khác

Ngoài các nguyên nhân trên, đau ngực cũng có thể do các vấn đề khác gây ra như:

Vấn đề tâm lý

Một số người bệnh gặp vấn đề gây ra tình trạng hoảng loạn, áp lực, căng thẳng trong công việc và cuộc sống có thể dẫn đến các cơn đau ngực đi kèm với tim đập nhanh, thở gấp đổ mồ hôi, khó thở, buồn nôn, chóng mặt,… các triệu chứng này thường hết khi người bệnh được điều trị tâm lý hoặc đã vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Bệnh Zona

Bệnh Zona thần kinh hay còn gọi là Shingles là bệnh nhiễm trùng da được gây ra bởi virus thủy đậu, có thể gây đau đớn và xuất hiện các đốm mụn nước từ lưng đến ngực.

Các triệu chứng kèm theo đau ngực

Đau ngực có thể gây ra nhiều triệu chứng đi kèm khác nhau phụ thuộc vào nguyên nhân cũng như bộ phận bị tổn thương. Thông thường, không phải tất cả các cơn đau ngực đều liên quan đến tim, nhiều người bệnh tim cho biết họ có cảm giác bị đau ngực rất mơ hồ mà không xác định được vị trí đau. Để biết được chính xác nguyên nhân gây ra cơn đau Cô Bác, Anh Chị cần đến gặp bác sĩ để được tư vấn.

Các triệu chứng đi kèm với đau ngực

Để phân biệt các cơn đau tim và đau ngực khác thường rất khó. Tuy nhiên, đau ngực do tim thường xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng sau:

Vị trí cơn đau ngực thường xuất hiện bên trái, vùng ngực cảm thấy áp lực, đè nén, nóng rát hoặc đau tức ngực. Trong một số trường hợp, cơn đau có thể lan rộng sang ngực phải hoặc toàn bộ ngực.

Cơn đau quặn thắt, nhức nhối lan rộng ra sau lưng, cổ, hàm, vai và một hoặc cả hai cánh tay.

Cơn đau kéo dài hơn vài phút, trở nên tệ hơn khi cố gắng hoạt động.

Chóng mặt hoặc suy nhược cơ thể.

Khó thở.

Đổ mồ hôi lạnh.

Buồn nôn, nôn.

Nhịp tim đập nhanh hoặc không đều.

Các dấu hiệu và triệu chứng đau ngực không liên quan đến tim thường xuất hiện như:

Miệng có vị chua, lòng ngực nóng rát và có cảm giác thức ăn trào ngược lên miệng (ợ trớ).

Khó nuốt, đau khi nuốt.

Cơn đau tăng lên khi hít thở sâu, ho, cử động mạnh.

Cơn đau có thể dịu đi khi cố gắng ấn mạnh vào ngực.

Đau có thể kèm theo phát ban, sốt cao, ớn lạnh, nhức mỏi, ho, cảm giác hoảng sợ, lo lắng,…

Đau dai dẳng trong nhiều giờ liền.

Cơn đau từ lưng lan ra trước ngực.

Khi nào cần đi khám bác sĩ?

Cô Bác, Anh Chị cần được cấp cứu nếu cơn đau ngực có các tính chất sau:

Cảm giác ngực bị chèn ép, căng tức, đau nhói dưới xương ức.

Đau ngực lan đến hàm, cánh tay hoặc lưng.

Đau ngực dữ dội, đột ngột kèm theo khó thở đặc biệt là sau một thời gian dài không vận động.

Buồn nôn, chóng mặt, suy nhược, ngất xỉu, nhịp tim nhanh, thở nhanh, lú lẫn hoặc đổ mồ hôi nhiều.

Huyết áp hoặc nhịp tim rất thấp.

Cần đặc biệt chú ý nếu triệu chứng đau ngực xuất hiện ở:

Người lớn trên 40 tuổi, có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ mắc CAD như tiền sử gia đình có người mắc bệnh, sử dụng nhiều thuốc lá, béo phì, tăng cholesterol, đái tháo đường,…

Gia đình có người mắc bệnh tim sớm.

Tình trạng ngực đau có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có một số nguyên nhân rất nguy hiểm cần được phát hiện và xử lý kịp thời. Vì vậy, nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu đau ngực nào Cô Bác, Anh Chị cũng cần nên đến gặp bác sĩ để được thăm khám, chẩn đoán và điều trị sớm.

Phương pháp chẩn đoán triệu chứng đau ngực

Đối với một cơn đau ngực cấp kèm bất thường các thông số sinh tồn (mạch, huyết áp, nhịp tim, nhịp thở, nhiệt độ,…) cần hết sức chú ý những nguyên nhân nguy hiểm, cấp tính thường gặp và có thể gây chết người của đau ngực như nhồi máu cơ tim, thuyên tắc phổi, bóc tách động mạch chủ, tràn khí màng phổi,…

Sau khi xử trí hay loại trừ các nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng cẩn thận và thực hiện các cận lâm sàng để chẩn đoán nguyên nhân gây đau ngực.

Khám lâm sàng

Đối với bệnh nhân đau ngực, bác sĩ sẽ thăm khám toàn diện để có thể có định hướng tốt nhât cho chẩn đoán phân biệt cũng như tiên lượng bệnh hoặc tìm các biến chứng xảy ra.

Cô Bác, Anh Chị sẽ được hỏi kỹ về bệnh sử, tiền căn bệnh và khám tổng quát tất cả các hệ cơ quan, đặc biệt lưu ý các cơ quan có thể gây ra triệu chứng đau ngực.

Khai thác các triệu chứng cơ năng: đóng vai trò rất quan trọng trong đau ngực, giúp định hướng để tìm nguyên nhân:

Đặc điểm đau ngực: đau như thắt, bóp ngẹt hoặc đè nặng (như hòn đá nặng đè hoặc như ai thò tay vào ngực bóp mạnh) ngay sau xương ức là đặc điểm điển hình của nguyên nhân bệnh động mạch vành, đau rát bỏng từ bụng lên có thể nghĩ đến của bệnh trào ngược thực quản, đau theo nhịp thở có thể do nguyên nhân bệnh màng tim hoặc màng phổi, đau nhói tại một điểm thường do nguyên nhân thần kinh, tâm lý hoặc cơ học tại chỗ.

Vị trí và hướng lan: vị trí rất quan trọng trong định hướng đau ngực. Đau thắt ngực do bệnh động mạch vành thường ngay sau xương ức và kinh điển là lan lên cằm rồi lan lên vai trái sau đó xuống mặt trong cánh tay trái, đôi khi lan lên hàm hoặc vai phải. Nếu đau ngực nhiều, sâu và lan về phía sau lưng cần nghĩ tới tách thành mạch chủ. Đau tại những vị trí cố định và liên tục thì cần tìm nguyên nhân do viêm nhiễm tại chỗ hoặc bệnh lý thần kinh – cơ. Nhưng đau có liên quan đến vùng thượng vị hoặc lan đến thượng vị cần chú ý đến bệnh lý hệ tiêu hóa.

Những yếu tố tác động đến đau ngực: gắng sức, stress, căng thẳng, thay đổi tư thế, nhịp thở, tác động bên ngoài vào (ví dụ ấn tay) hoặc dùng một số thuốc (nitroglycerin),… làm thay đổi tính chất đau ngực cũng là những thông tin quan trọng giúp bác sĩ chẩn đoán nguyên nhân. Đau thắt ngực do bệnh động mạch vành thường xảy ra khi gắng sức, đỡ khi nghỉ hoặc dùng nitroglycerin, đau ngực do bệnh màng tim hoặc phổi thường bị ảnh hưởng của tư thế hoặc nhịp thở, đau khi chạm hoặc ấn vào thành ngực như viêm khớp ức sườn, hội chứng thần kinh liên sườn, virus herpes. Đau do nguyên nhân tiêu hóa lại thường liên quan đến bữa ăn (sau ăn hoặc khi đói), tăng khi nằm và không đỡ khi nghỉ hoặc dùng nitroglycerin,…

Thời gian đau ngực kéo dài, tần suất tái phát cơn đau: cũng có ý nghĩa cho chẩn đoán. Trong đau thắt ngực do nguyên nhân bệnh động mạch vành điển hình là những cơn đau kéo dài trong vài phút, đau thường tái phát khi có những yếu tố ảnh hưởng như gắng sức, lo lắng,… Nếu cơn đau có tính chất như vậy nhưng kéo dài hơn 30 phút và không đỡ khi nghỉ thì phải nghĩ tới bệnh nhân có thể bị nhồi máu cơ tim hoặc đau thắt ngực không ổn định. Đau ngực chỉ trong thời gian ngắn (vài giây) hoặc kéo dài liên tục thì thường là do những nguyên nhân khác ngoài bệnh lý động mạch vành.

Các triệu chứng khác đi kèm: các triệu chứng đi kèm đau ngực cũng rất quan trọng giúp chẩn đoán và tiên lượng bệnh. Đau thắt ngực do bệnh động mạch vành thường kèm theo khó thở, hoảng sợ, vã mồ hôi. Đau ngực do bệnh lý tiêu hóa thường kèm theo nôn hoặc buồn nôn, khó nuốt. Bệnh lý đau do nhồi máu phổi thường kèm theo khó thở dữ dội, có thể ho ra máu. Bệnh nhân có sốt thì cần tìm hiểu nguyên nhân viêm nhiễm (viêm phế quản, herpes, viêm màng tim, màng phổi).

Khai thác các yếu tố nguy cơ: trước một trường hợp đau ngực, cần khai thác kỹ yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành. Bệnh nhân càng có nhiều yếu tố nguy cơ càng tăng khả năng nghi ngờ bệnh nhân bị đau ngực do bệnh mạch vành.

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:

  • Thừa cân hoặc béo phì.
  • Bệnh đái tháo đường.
  • Huyết áp cao và cholesterol cao.
  • Thường xuyên căng thẳng.
  • Ít hoạt động thể chất.
  • Người có tiền sử hút thuốc hoặc hít phải khói thuốc.
  • Người có chế độ ăn uống không lành mạnh, bao gồm nhiều thực phẩm có nhiều chất béo bão hòa, muối và đường.

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được:

  • Độ tuổi: tuổi cao, đặc biệt là trên 65 tuổi.
  • Tiền sử gia đình, đặc biệt nếu có người thân bị bệnh tim khi còn trẻ (nam < 45 tuổi, nữ < 55 tuổi).
  • Giới tính: nam giới dưới 70 tuổi có nguy cơ bị đau tim cao hơn và mắc bệnh sớm hơn so với nữ giới.
  • Chủng tộc: người Mỹ gốc Phi có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người thuộc các chủng tộc khác vì họ thường có huyết áp cao hơn. Người châu Á và gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ béo phì và tiểu đường cao hơn, do đó cũng có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim.

Bên cạnh đó, Cô Bác, Anh Chị cũng nên thông báo với bác sĩ nếu bản thân mắc các chứng bệnh liên quan đến tim, phổi, tiêu hóa, rối loạn đông máu hoặc bệnh thận, đặc biệt là nếu gia đình có người đã từng mắc các bệnh liên quan cũng như các loại thuốc đang sử dụng.

Cận lâm sàng chẩn đoán

Sau khi chẩn đoán nguyên nhân lâm sàng, bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân thực hiện các cận lâm sàng phù hợp như xét nghiệm, nội soi tiêu hóa, chẩn đoán hình ảnh hoặc đánh giá chức năng.

Bệnh nhân có thể thực hiện một hoặc nhiều cận lâm sàng để bác sĩ có thể đánh giá tổng quan tình trạng sức khỏe, mức độ tổn thương cũng như tìm ra phương pháp điều trị phù hợp.

Xét nghiệm

Xét nghiệm máu

Xét nghiệm máu để kiểm tra mức độ gia tăng của một số protein hoặc enzym thường được tìm thấy trong cơ tim. Các tổn thương cơ tim thường khiến các protein hoặc enzym này rò rỉ vào máu trong vài giờ.

Xét nghiệm men tim cần được thực hiện ngay khi nhập viện và lặp lại mỗi 3 – 6 giờ ở tất cả bệnh nhân nghi ngờ mắc hội chứng mạch vành cấp. Do có độ chuyên biệt cao hơn nên Troponin thường được sử dụng nhiều hơn CKMB trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, men tim có thể tăng trong những bệnh cảnh khác gây tổn thương cơ tim ngoài nhồi máu cơ tim như viêm cơ tim, suy thận mạn giai đoạn cuối, thuyên tắc phổi,…

Xét nghiệm D-dimer

Xét nghiệm D-dimer tăng gợi ý đến thuyên tắc phổi. D-dimer bình thường giúp loại trừ thuyên tắc phổi.

Xét nghiệm BNP hay NT-pro BNP

Xét nghiệm BNP hay NT-pro BNP có vai trò tiên lượng ở bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp hoặc thuyên tắc phổi.

Nội soi ống tiêu hóa

Nội soi ống tiêu hóa trên (bao gồm nội soi thực quản, nội soi dạ dày và nội soi tá tràng) thường được chỉ định khi bác sĩ có các nghi ngờ bệnh nhân bị trào ngược dạ dày – thực quản (GERD), viêm loét thực quản, polyp dạ dày hoặc ung thư thực quản, dạ dày, tá tràng. Một ống nội soi mềm có gắn camera được đưa vào bên trong ống tiêu hóa trên qua đường miệng, giúp bác sĩ quan sát các tổn thương nếu có từ bên trong thực quản đến tá tràng.

Chẩn đoán hình ảnh

Chụp X-quang ngực

Chụp X-quang ngực cho phép bác sĩ kiểm tra tình trạng phổi, hệ tiêu hóa cũng như kích thước, hình dạng tim và các mạch máu chính. X-quang ngực đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện các bất thường về phổi như viêm phổi, tràn khí màng phổi. X-quang ngực thường có thể được áp dụng cho bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp nhưng cũng có thể thấy được hình ảnh phù phổi cấp.

Chụp cắt lớp vi tính động mạch vành

Chụp cắt lớp vi tính động mạch vành giúp phát hiện các khối máu đông có thể xuất hiện trong tim và phổi để loại trừ các bệnh thuyên tắc phổi, tràn dịch màng ngoài tim hoặc bóc tách động mạch chủ. Chụp CT có thể kết hợp với chất cản quang giúp các dấu hiệu bất thường hiện rõ hơn trên phim chụp.

Chụp CT động mạch vành có độ nhạy cao trong phát hiện bệnh lý động mạch vành. Ưu điểm của chụp CT là hình ảnh sẽ hiển thị rõ các tổn thương hơn so với chụp X-quang.

Chụp cộng hưởng từ - MRI

Chụp cộng hưởng từ – MRI là phương tiện không xâm lấn giúp đánh giá chức năng và cấu trúc của tim cũng như các mạch máu trong lồng ngực.

  • Chụp cộng hưởng từ tim có thể phát hiện sớm nhồi máu cơ tim, xác định chính xác vùng hoại tử cơ tim, chẩn đoán loại bệnh cơ tim.
  • Mặc dù ít được sử dụng trong cấp cứu đau ngực nhưng chụp cộng hưởng từ tim có thể giúp đánh giá cấu trúc tim ở những bệnh nhân tăng Troponin không do bệnh động mạch vành.
  • Chụp cộng hưởng từ cũng cho phép đánh giá chính xác bóc tách động mạch chủ.
Siêu âm tim

Siêu âm tim giúp phát hiện những rối loạn vận động như thiếu máu cơ tim, chẩn đoán các biến chứng cơ học của nhồi máu cơ tim hoặc chèn ép tim cấp trong viêm màng ngoài tim.

  • Ưu điểm của liệu pháp siêu âm tim so với các phương pháp khác là cho phép bác sĩ quan sát tình trạng tim trong trạng thái động, đánh giá khả năng co bóp, hướng và tốc độ máu di chuyển qua tim.
  • Siêu âm tim qua thành ngực có thể phát hiện bóc tách động mạch chủ nhưng có độ nhạy thấp.
Đặt ống thông mạch vành

Đặt ống thông mạch vành (chụp mạch máu): một ống dài và mỏng được đưa vào động mạch qua cổ tay hoặc bẹn. Sau đó, bác sĩ sẽ tiêm một loại thuốc nhuộm dẫn thẳng đến động mạch tim để xác định các vị trí động mạch tim bị hẹp, tắc nghẽn hoặc xuất hiện các bất thường.

Đánh giá chức năng

Một số phương tiện đánh giá chức năng giúp bác sĩ chẩn đoán đau ngực là bệnh gì gây ra, bao gồm:

Đo điện tâm đồ

Đo điện tâm đồ (ECG) là đánh giá quan trọng nhất và thường được thực hiện trong 10 phút đầu tiên sau khi nhập viện giúp bác sĩ loại trừ bệnh nhồi máu cơ tim, đau ngực do thiếu máu cơ tim cũng như các biến chứng trên tim. ECG giúp ghi lại hoạt động điện tim của người bệnh thông qua các điện cực được gắn trên da, nếu các cơ tim bị tổn thương sẽ không dẫn truyền xung điện.

Đối với bệnh nhân nghi ngờ hội chứng mạch vành cấp sẽ thực hiện đo ECG lặp lại mỗi 30 – 60 phút một lần. Theo một số nghiên cứu, độ nhạy của ECG lúc nghỉ trong việc phát hiện thiếu máu cơ tim chỉ đạt khoảng 20%.

Điện tâm đồ gắng sức

Điện tâm đồ gắng sức thường được sử dụng để phân tầng nguy cơ ở những bệnh nhân chưa tìm được nguyên nhân gây đau ngực và có nguy cơ thấp của hội chứng mạch vành cấp. Đau ngực tiến triển chống chỉ định của nghiệm pháp gắng sức, nên điện tâm đồ gắng sức thường được dùng để chẩn đoán bệnh động mạch vành mạn.

Đánh giá hoạt động gắng sức

Đánh giá hoạt động gắng sức: Cô Bác, Anh Chị có thể được yêu cầu đi bộ trên máy chạy bộ hoặc đạp xe tại chỗ trong khi kết nối với máy đo điện tâm đồ. Các chỉ số đo lường nhịp tim và mạch máu sẽ phản ứng với các hoạt động cao, từ đó bác sĩ có thể xác định các cơn đau ngực có liên quan đến tim không.

Phương pháp điều trị và phòng ngừa triệu chứng đau ngực

Lựa chọn phương pháp điều trị đau ngực phù hợp sẽ dựa vào nguyên nhân gây ra triệu chứng và tình trạng sức khỏe của mỗi bệnh nhân.

Nguyên tắc xử trí hiện tượng đau ngực bao gồm:

  • Cần sớm đưa ra chẩn đoán xác định trước khi quyết định điều trị triệu chứng.
  • Kiểm soát hô hấp – huyết động: thở ôxy, dẫn lưu khí nếu tràn khí màng phổi. Cho sử dụng thuốc hạ áp nếu người bệnh tăng huyết áp, thuốc vận mạch nếu truỵ mạch, tụt huyết áp, điều trị loạn nhịp tim nếu có.
  • Điều trị triệu chứng: tuỳ theo mức độ đau ngực và nguyên nhân gây đau, nếu đau ngực nhiều có thể cho morphin tiêm.
  • Điều trị theo nguyên nhân: tuỳ nguyên nhân mà có phương pháp điều trị khác nhau.

Thuốc điều trị đau ngực

Bệnh nhân không nên tự ý sử dụng hoặc thay thế các loại thuốc đã được bác sĩ kê đơn. Bất kỳ loại thuốc điều trị nào cũng cần thông qua ý kiến bác sĩ.

Thuốc được sử dụng để điều trị phần lớn các triệu chứng đau ngực cấp tính, phổ biến ở mức độ nhẹ đến trung bình bao gồm:

Thuốc giãn động mạch Nitroglycerin: thường được dùng dưới dạng viên nén được đặt dưới lưỡi, có tác dụng làm giãn và mở rộng động mạch tim, giúp máu lưu thông dễ dàng hơn qua các vị trí bị hẹp.

Thuốc Aspirin: thường được sử dụng cho các bệnh nhân được chẩn đoán các triệu chứng đau ngực có liên quan đến tim. Bằng cách chống kết tập tiểu cầu, aspirin làm hạn chế kích thước khối máu đông, cải thiện tình trạng tắc nghẽn, giúp máu lưu thông trở lại và làm giảm các cơn đau.

Thuốc chẹn Beta: thuốc có tác dụng làm chậm nhịp tim và giảm huyết áp, làm giảm nhu cầu nhu cầu oxy cơ tim.

Thuốc làm tan huyết khối: nếu bệnh nhân được chẩn đoán xuất hiện các khối máu đông trong mạch máu ở tim hoặc phổi sẽ được chỉ định sử dụng thuốc làm tan huyết khối.

Thuốc làm loãng máu: loại thuốc này thường sử dụng chung với thuốc làm tan huyết khối, thuốc làm loãng máu sẽ ức chế quá trình hình thành các khối máu đông, giúp quá trình tan khối máu đông xảy ra nhanh hơn.

Thuốc ức chế axit: thuốc được sử dụng đối với bệnh nhân mắc bệnh trào ngược axit dạ dày – thực quản, thuốc ức chế axit sẽ giúp làm giảm lượng axit có bên trong dạ dày nhằm hạn chế việc trào ngược gây tổn thương lên niêm mạc thực quản. Một số loại thuốc ức chế axit bao gồm thuốc ức chế bơm proton (PPI), antacid giúp trung hòa axit.

Thuốc chống trầm cảm: nếu người bệnh xuất hiện các triệu chứng hoảng loạn, căng thẳng, nôn nao, lo lắng,… bác sĩ sẽ kê toa các loại thuốc chống trầm cảm để làm giảm các triệu chứng. Bên cạnh đó, bệnh nhân sẽ thực hiện các phương pháp trị liệu tâm lý giúp thúc đẩy quá trình điều trị.

Thuốc giảm đau, kháng viêm: thuốc được sử dụng trong điều trị viêm sụn sườn.

Phẫu thuật điều trị đau ngực và các phương pháp khác

Phẫu thuật chỉ được thực hiện trong trường hợp bệnh nhân bị đau ngực mạn tính, nguy hiểm đến tính mạng, xảy ra ở mức độ nặng hoặc không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác.

Nong mạch và đặt stent: nếu cơn đau ngực do tắc nghẽn động mạch dẫn máu tới tim, các bác sĩ sẽ thực hiện nong mạch bằng một ống mềm, mỏng có gắn một quả bóng ở đầu ống. Ống thông sẽ được đưa vào vị trí bị tắc nghẽn thông qua động mạch chủ ở bẹn hoặc đùi, sau đó bác sĩ sẽ bơm phồng quả bóng để mở rộng động mạch và đặt stent vào vị trí tắc nghẽn để giữ động mạch luôn mở rộng. Cuối cùng là làm xẹp bóng và rút ống thông ra ngoài.

Phẫu thuật ghép động mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu: bác sĩ sẽ phẫu thuật lấy một mạch máu từ một bộ phận khác của cơ thể và tạo một tuyến đường lưu thông máu thay thế cho vị trí động mạch bị tắc nghẽn.

Phẫu thuật bóc tách sữa chữa: bóc tách động mạch chủ là trường hợp cấp cứu nguy hiểm đến tính mạng, vì thế bác sĩ sẽ thực hiện một cuộc phẫu thuật khẩn cấp để tránh tình trạng mạch máu bị vỡ.

Phương pháp phòng ngừa triệu chứng đau ngực

Hiện nay, bệnh động mạch vành và nhồi máu cơ tim gây ra triệu chứng đau ngực xuất hiện ngày càng nhiều ở người dưới 50 tuổi, điều này có nghĩa là quá trình xơ vữa động mạch vành đã diễn ra trước đó từ rất lâu thường 10 – 20 năm. Do đó để hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc xảy ra sau này, chúng ta cần phải phòng ngừa ngay khi còn trẻ.

Để phòng ngừa các nguyên nhân gây đau ngực Cô Bác, Anh Chị cần chú ý đến chế độ dinh dưỡng cũng như lối sống sinh hoạt hằng ngày, luôn giữ cơ thể khỏe mạnh và tránh xa các chất kích thích.

Xây dựng một lối sống lành mạnh: không hút thuốc lá, hạn chế bia rượu, giảm căng thẳng, hạn chế ăn mặn, thức ăn chứa nhiều dầu mỡ, cay nóng, thực phẩm chế biến sẵn, ăn nhiều rau xanh, trái cây, tăng cường vận động thể chất ít nhất 30 phút/ ngày,…

Cần phải kiểm tra sức khỏe định kỳ, xét nghiệm máu để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa mạch máu. Tầm soát ung thư tiêu hóa định kỳ giúp Cô Bác, Anh Chị kiểm tra toàn bộ hệ tiêu hóa, xác định các dấu hiệu, biểu hiện bất thường nhằm phát hiện ung thư, nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa các bệnh lý thường gặp ở ống tiêu hóa và tuyến tiêu hóa.

Hầu hết các yếu tố chủ yếu gây tổn thương mạch máu là hoàn toàn có thể kiểm soát được như thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol. Khi phát hiện bị tăng huyết áp, đái tháo đường người bệnh phải được điều trị tích cực, duy trì mức huyết áp và đường huyết thích hợp.

Đối với người có cholesterol trong máu cao thì cần thay đổi chế độ ăn, tập luyện hay phải dùng thuốc để đưa về chỉ số bình thường. Nếu tất cả các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa mạch máu này được duy trì ở chỉ số thích hợp thì cơ hội xuất hiện bệnh tim động mạch vành giảm đáng kể.

Câu hỏi tổng hợp

Đau ngực là cảm giác đau ở vùng ngực từ mức ngang vai đến mức dưới cùng của xương sườn. Cơn đau xuất hiện dưới nhiều hình thức từ đau nhói đến đau âm ỉ, đau kéo dài hoặc thoáng qua, cơn đau xuất hiện tại ngực bên trái hoặc phải, đôi khi lan rộng ta toàn bộ vùng ngực. Đau ngực có thể kèm theo triệu chứng khó thở, đau đầu, chóng mặt,…

Nguyên nhân gây triệu chứng đau ngực đến từ nhiều nguyên nhân do tim hoặc không do tim.

Nguyên nhân gây đau ngực có thể dựa theo vị trí các cơ quan bao gồm:

  • Nguyên nhân liên quan đến tim.
  • Nguyên nhân liên quan đến phổi.
  • Nguyên nhân liên quan đến từ hệ tiêu hóa.
  • Nguyên nhân do cơ xương khớp.
  • Đau ngực do các nguyên nhân khác.

 

Cô Bác, Anh Chị cần được cấp cứu nếu cơn đau ngực có các tính chất sau:

  • Cảm giác ngực bị chèn ép, căng tức, đau nhói dưới xương ức.
  • Đau ngực lan đến hàm, cánh tay hoặc lưng.
  • Đau ngực dữ dội, đột ngột kèm theo khó thở đặc biệt là sau một thời gian dài không vận động.
  • Buồn nôn, chóng mặt, suy nhược, ngất xỉu, nhịp tim nhanh, thở nhanh, lú lẫn hoặc đổ mồ hôi nhiều.
  • Huyết áp hoặc nhịp tim rất thấp.

Cần đặc biệt chú ý nếu triệu chứng đau ngực xuất hiện ở:

  • Người lớn trên 40 tuổi, có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ mắc CAD như tiền sử gia đình có người mắc bệnh, sử dụng nhiều thuốc lá, béo phì, tăng cholesterol, đái tháo đường,…
  • Gia đình có người mắc bệnh tim sớm.

Đối với một cơn đau ngực cấp kèm bất thường các thông số sinh tồn (mạch, huyết áp, nhịp tim, nhịp thở, nhiệt độ,…) cần hết sức chú ý những nguyên nhân nguy hiểm, cấp tính thường gặp và có thể gây chết người của đau ngực như nhồi máu cơ tim, thuyên tắc phổi, bóc tách động mạch chủ, tràn khí màng phổi,…

Sau khi xử trí hay loại trừ các nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng cẩn thận và thực hiện các cận lâm sàng để chẩn đoán nguyên nhân gây đau ngực.

Lựa chọn phương pháp điều trị đau ngực phù hợp sẽ dựa vào nguyên nhân gây ra triệu chứng và tình trạng sức khỏe của mỗi bệnh nhân.

Nguyên tắc xử trí đau ngực bao gồm:

  • Cần sớm đưa ra chẩn đoán xác định trước khi quyết định điều trị triệu chứng.
  • Kiểm soát hô hấp – huyết động: thở ôxy, dẫn lưu khí nếu tràn khí màng phổi. Cho sử dụng thuốc hạ áp nếu người bệnh tăng huyết áp, thuốc vận mạch nếu truỵ mạch, tụt huyết áp, điều trị loạn nhịp tim nếu có.
  • Điều trị triệu chứng: tuỳ theo mức độ đau ngực và nguyên nhân gây đau, nếu đau ngực nhiều có thể cho morphin tiêm.
  • Điều trị theo nguyên nhân: tuỳ nguyên nhân mà có phương pháp điều trị khác nhau.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trung tâm nội soi & chẩn đoán bệnh lý tiêu hóa Doctor Check.
  2. Andrea D. Thompson, MD, PhD & Michael J. Shea, MD. Chest pain. 09 2020. https://www.msdmanuals.com/home/heart-and-blood-vessel-disorders/symptoms-of-heart-and-blood-vessel-disorders/chest-pain (đã truy cập 09 23, 2021).
  3. Ken Johnson & Sassan Ghassemzadeh. “Chest pain.” Trong StatPearls, của Ken Johnson & Sassan Ghassemzadeh. Treasure Island: StatPearls, 2021.
  4. Mayo Clinic Staff. Chest pain. 08 12 2017. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/chest-pain/symptoms-causes/syc-20370838 (đã truy cập 09 23, 2021).
  5. Moores, Danielle. Why Am I Having Chest Pain? 06 11 2019. https://www.healthline.com/health/chest-pain (đã truy cập 09 23, 2021).
  6. Richard N. Fogoros, MD. When Is Chest Pain an Emergency? 06 04 2020. https://www.verywellhealth.com/chest-pain-emergency-1745275 (đã truy cập 09 23, 2021).

Tin sức khoẻ

su-menh-400x300

TRUNG TÂM NỘI SOI & CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ TIÊU HOÁ DOCTOR CHECK

THỜI GIAN KHÁM BỆNH: 6 - 15 giờ (T2 - T7)

Đặt lịch khám

Đặt lịch khám ngay với bác sĩ của Doctor Check. Đội ngũ chăm sóc khách hàng sẽ liên hệ để xác nhận cuộc hẹn.